Tìm kiếm  
 
Bạn thấy website này thế nào



Lượt Truy Cập
1,223,306
Quan niệm về Công chức trong pháp luật Việt Nam
ThS. Trần Thị Phượng, giảng viên khoa Nhà nước và Pháp luật

          Theo tiến trình lịch sử, trải qua các giai đoạn khác nhau, pháp luật Việt Nam đã có các quan niệm khác nhau về Công chức.

          - Giai đoạn 1945 - 1959:

          + Trong  Hiến pháp năm 1946 thuật ngữ  Công chức chưa được sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ Nhân viên. VD: Nhân viên HĐND và UBND.

          + Ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh số 76 về chế độ Công chức: theo đó Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước.

          Sau năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76 nhưng thuật ngữ Công chức được thay thế bằng thuật ngữ Cán bộ công nhân viên nhà nước. Thời kỳ này không có sự phân biệt rõ ràng về khái niệm Công chức. Tất cả những người làm việc ở cơ quan hành chính, sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh đều được gọi là cán bộ công nhân nhân viên nhà nước.

          - Giai đoạn 1959 - 1980:

          + Hiến pháp năm 1959 quy định: Tất cả nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp, pháp luật, hết lòng phục vụ nhân dân (Điều 6). Theo quy định này mọi người làm việc trong cơ quan Nhà nước đều gọi là nhân viên Nhà nước.

          + Hiến pháp năm 1980, thuật ngữ thuật ngữ Cán bộ, viên chức nhà nước bắt đầu được sử dụng chính thức. Điều 8 quy định: Cán bộ, viên chức Nhà nước có nghĩa vụ tận tụy phục vụ nhân dân. Như vậy, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước đều đc gọi là cán bộ viên chức Nhà nước trừ những đối tượng là công nhân.

          - Giai đoạn 1980 - 1992:

          + Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đã chỉ rõ “Đổi mới căn bản công tác cán bộ. Phân định rõ cán bộ dân cử theo nhiệm kỳ với công chức, viên chức chuyên nghiệp và cán bộ công nhân viên trong các đơn vị sản xuất kinh doanh”

          + Ngày 25/1/1991 Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ ban hành Nghị định 169/HĐBT quy định Công chức. Theo đó Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong công sở Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, bậc, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp.

          - Giai đoạn 1992 - 1998:

          + Hiến pháp năm 1992 quy định: Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân…” Theo quy định này, cán bộ, viên chức bao gồm tất cả những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước, các nhân viên dân sự làm việc tại các cơ quan đơn vị quân đội, các cơ quan, đơn vị Công an nhân dân, các viên chức trong các tổ chức kinh tế Nhà nước.

          + Cụ thể hóa Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998. Pháp lệnh này sử dụng thuật ngữ Cán bộ, công chức. Pháp lệnh chưa đưa ra định nghĩa riêng cho từng đối tượng Cán bộ, công chức mà tại Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức quy định chung: Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm:

          1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

          2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

          3. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

          4. Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

          5. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

          + Nghị định số 95/1998/NĐ-CP của Chính phủ vể tuyển dụng, sử dụng và quản lý Công chức chỉ coi những người thuộc khoản 3, khoản 5 của Điều 1 Pháp lệnh cán bộ. Nghị định tuy không đưa ra định nghĩa khái quát về Công chức  nhưng đã liệt kê những đối tượng Công chức bao gồm những người được quy định tại khoản 3, 5 Điều 1 Pháp lện Cán bộ, công chức. Cụ thể:

          + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hanh chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan sau: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp; Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài; Trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học của Nhà nước; Thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa của Nhà nước; các tổ chức khác của Nhà nước.

          + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sỹ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà ko phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp.

           Nghị định này không định nghĩa khái quát về Công chức nhà nước nhưng đã đưa ra các dấu hiệu của Công chức là:

          + Là công dân Việt

          + Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân và trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.

          + Được phân loại theo trình độ đào tạo.

          + Được xếp vào ngạch hành chính, ngạch sự nghiệp.

          + Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

          - Giai đoạn từ năm 1998 đến nay:

          + Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều Pháp lệnh Cán bộ, công chức  năm 2003 đưa ra quan niệm mới về Cán bộ, công chức (Điều 1 Pháp lệnh).

          + Pháp lệnh đã mở rộng phạm vi điều chỉnh thêm các đối tượng (mục g, h Pháp lệnh sửa đổi).

          + Đã phân biệt các đối tượng công chức ngạch hành chính và ngạch sự nghiệp, công chức  ngạch sự nghiệp gọi là viên chức. Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng nhằm điều chỉnh một cách chuyên biệt về tuyển dụng, sử dụng, quản lý một cách hợp lý, khoa học đối với từng đối tượng, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ công chức nhà nước ngày một chính quy, hiện đại trong xu hướng cải cách nền hành chính hiện nay và trong tương lai.

          + Ngày 10/10/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 117/2003/NĐ-CP về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý Cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước.

          Điều 2 Nghị định 117 thì công chức  là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, c, e khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chủ tịch nước; Các cơ quan hành chính ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài; Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội cơ Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.

          Đặc biệt Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (thay thế Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2003)nhiều nội dung mới và tiến bộ, mang tính cải cách mạnh mẽ so với Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2003)

          Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã phân định rõ ai là cán bộ, ai là công chức. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2, Điều 4).

          Bên cạnh đó, Luật Cán bộ, công chức cũng quy định rõ về công chức cấp xã. Theo khoản 3 Điểu 4: công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

          Luật Cán bộ, công chức có 3 chương riêng biệt: chương cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; chương công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; chương cán bộ, công chức cấp xã. Qua đó đã thể hiện bước tiến mới trong việc phân biệt một số nội dung quản lý cán bộ với quản lý công chức và cán bộ, công chức cấp xã. Đặc biệt, việc thực hiện điều động, luân chuyển cán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội đã được thể chế hóa trong các chương này của Luật.

Như vậy, trải qua các giai đoạn khác nhau, pháp luật Việt Nam đã có những quan niệm khác nhau về Công chức. Đặc biệt, gần đây nhất là Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các Nghị định hướng dẫn thi hành với những nội dung tiến bộ, mang tính cải cách mạnh mẽ đã thể hiện nhất quán chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, tinh thông và có phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

 

Các tin mới hơn
Bài học về sự sẻ chia (06/12/2018)
Một số khó khăn khi giảng dạy chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và biện pháp khắc phục (06/12/2018)
Một số yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả áp dụng phương pháp giảng dạy môn Nhà nước và pháp luật ở trường Chính trị tỉnh Hải Dương (05/12/2018)
Kỹ năng giao việc hiệu quả (04/12/2018)
Các tin cũ hơn
Lỗi lầm và lòng biết ơn (04/12/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ Việt - Lào (04/12/2018)
Một số vấn đề sửa đổi, bổ sung trong Điều lệ Hội Cựu chiến binh khóa VI (23/11/2018)
Mô hình kinh tế thị trường xã hội CHLB Đức, nhà nước phúc lợi Bắc Âu và những kinh nghiệm trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam (22/11/2018)
Công tác quản lí lễ hội ở nước ta hiện nay (22/11/2018)
Thông báo