Tìm kiếm  
 
Bạn thấy website này thế nào



Lượt Truy Cập
1,411,647
Án lệ và việc áp dụng án lệ ở Việt Nam

1. Án lệ

Án lệ theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau: “Án lệ là việc làm luật của Tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử các quy tắc mới trong quá trình xét xử vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho nhưng trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này”. Trong hệ thống thông luật ( common law thì án lệ được công nhận là một hình thức nguồn của pháp luật và được áp dụng rộng rãi, phổ biến. Đối với hệ thống dân luật (civi law) thì án lệ được coi là nguồn thứ yếu, tuy nhiên trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay thì án lệ được áp dụng rộng rãi trong đó có các lĩnh vực xét xử, thương mại quốc tế.

Ở nước ta việc sử dụng khái niệm “án lệ” có từ trước năm 1960, từ án lệ được coi là nguồn thứ yếu, tuy nhiên trong thời đại hiện nay thì án lệ đã được áp dụng rộng rãi trong đó có các lĩnh vực xét xử, thương mại quốc tế.

Ở nước ta khái niệm án lệ có từ trước năm 1960 và chính thức được sử dụng trong các văn bản pháp luật chính thức công khai trên các tạp chí chuyên ngành, đường lối xét xử của Tòa án về những vụ việc cùng loại được tập hợp, phân tích, bình luận. Tuy nhiên, từ năm 1960, thuật ngữ “luật lệ” được sử dụng thay cho khái niệm “án lệ”. Từ sau năm 1975 đến truước năm 2006 thì khái niệm án lệ hầu như không được sử dụng một cách chính thức. Trong các sách, báo pháp lý, khái niệm “án lệ” vẫn được bàn luận, nhưng chỉ mang tính chất nghiên cứu học thuật. Khái niệm án lệ được chính thức ghi nhận tại Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTPNDTC ngày 28/10/2015 : ” Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.”

          Từ các khái niệm nêu trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của án lệ như sau:

Án lệ, là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do Tòa án ban hành trong quá trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc (“Case law”) và phải được Hội đồng thẩm phán TANDTC lựa chọn và được Chánh án TAND công bố là án lệ

Án lệ được hình thành phải mang tính mới. Nghĩa là, đây là quy tắc chưa có trước đó. Thật ra, không phải khi Tòa án xét xử bất kỳ vụ việc nào cũng đều tạo ra án lệ. Thông thường, khi có một việc tranh chấp tại Tòa thì các Thẩm phán, Hội thẩm người tiến hành tố tụng khác cũng như những người tham gia tố tụng: người bào chữa... sẽ quan tâm hai vấn đề: Vấn đề sự kiện, vấn đề pháp lý

Đối với vụ việc đơn thuần chỉ liên quan đến việc xác định tính chất pháp lý của sự kiện và đã có quy định trong văn bản pháp luật hay tiền lệ trước đó để áp dụng. Tòa án không tạo ra án lệ khi giải quyết các vụ việc đó. Chỉ có các vụ việc liên quan đến vấn đề pháp lý cần giải quyết bằng pháp luật mà chưa có, lúc đó Tòa án mới tạo ra án lệ khi giải quyết những vụ việc này.

Một quy tắc án lệ được hình thành trên ba yếu tố: các tình tiết của vụ việc; Lý lẽ lập luận; Quyết định của Tòa án. Khi Tòa án giải quyết vụ việc đầu tiên chỉ tạo ra hình mẫu hay phác thảo nên một quy tắc hay nguyên tắc án lệ được hình thành phải trải qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau. Các thẩm phán sau này khi giải quyết một vụ việc cần phải xác định và đánh giá lý lẽ tương tự, nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ (lập luận và phán quyết ) trong bản án trước đã được công nhận là án lệ để giải quyết vụ việc hiện tại, nếu không tương tự thì không áp dụng .

 Giữa án lệ và văn bản quy phạm pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể là: quan hệ bổ trợ, án lệ bổ trợ các văn bản quy phạm pháp luật, các quy phạm pháp luật trong các trong các văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng khi xét xử và án lệ để cho Tòa án các cấp nghiên cứu, áp dụng thống nhất, chính xác, giải quyết vụ việc khi không có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh; quan hệ tương hỗ, án lệ là sự bổ sung cho sự thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật khi chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh.

2.Áp dụng án lệ ở Việt nam

Từ năm 2004, Tòa án nhân dân tối cao( TANDTC) nước ta đã thường xuyên chọn lọc và công bố các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Đây là điều kiện tiền đề cho việc thừa nhận án lệ ở Việt nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với tư cách là một thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới ( WTO), Việt Nam cần phải tuân thủ các nguyên tắc về minh bạch hóa, trong đó yêu cầu các tòa án cần phải công bố công khai các bản án của mình. Nghị quyết số 48/NQQ-TƯ ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 đã xác định : “Nghiên cứ về khả năng khai thác và sử dụng án lệ “. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã đề ra mục đích xây dựng và hoàn thiện từng bước hoạt động của Tòa án nhân dân là :”TANDTC có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm “. Thực hiện sự chỉ đạo của các nghị quyết TW, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/01/2012 về việc phê duyệt đề án “ Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao”, theo đó đã chỉ rõ mục tiêu quan điểm chỉ đạo, định hướng và các giải pháp phát triển án lệ ở nước ta. Tiếp theo, Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành Nghị quyết số 03/NQ-HĐTPTANDTC ngày 28/10/2015 về quy định công bố, lựa chọn và sử dụng án lệ (Nghị quyết số 03/NQ-HĐTPTANDTC ). Bộ luật TTDS sửa đổi, bổ sung năm 2015, các Điều 262, khoản 2, điểm b: Điều 308 khoản 4 đã chính thức, công nhận án lệ là “căn cứ” bên cạnh pháp luật, tập quán, tương tự pháp luật để tòa án phân tích,đánh giá…Như vậy, án lệ đã trở thành một nguồn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, cụ thể là trong hoạt động xét xử của Tòa án ở nước ta.

Áp dụng án lệ nhằm làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; nhằm tạo sự thống nhất trong công tác xét xử của Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật, bảo đảm sự thống nhất của các bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm các vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được  giải quyết như nhau; không để “ công lý bị xoay vần”chỉ vì các văn bản pháp luật còn thiếu, còn mâu thuẫn và chồng chẽ,văn bản hướng dẫn,giải thích pháp luật chưa kịp thời và sự tùy tiện của các thẩm phám. Bên cạnh đó, án lệ còn là “nguồn” để các Tòa án nghiên cứu, tham khảo tính đúng đắn về chuyên môn, nghiệp vụ trong các bản án đã tuyên, để đưa ra quyết định đối với vụ án cụ thể, có nội dung tương tự của mình. Việc áp dụng án lệ sẽ góp phần công khai và phổ biến rỗng rãi bản án và quyết định của Tòa án các cấp để mọi người cũng biết, tham khảo và đánh gía chất lượng phán quyết của Tòa án, góp phần nâng cao kiến thức pháp luật cho người dân.

          Điều 8 Nghị quyết số 03/NQ-HĐTPTANDTC quy định về “Nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử “, theo đó “án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc được ghi trong quyết định công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết ,sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau..”

Căn cứ vào các nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử nêu trên, theo quan điểm của chúng tôi, khi Thẩm phán, Hội thẩm áp dụng án lệ cần tiết tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phân tích vụ, việc.

Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình áp dụng án lệ,cho nên cần phải: Nghiên cứu một cách khách quan,toàn diện và đầy đủ những tình tiết,hoàn cảnh, điều kiện…của vụ việc; Xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc, tiếp đó, lựa chọn án lệ cụ thể, phù hợp để áp dụng vào giải quyết vụ việc.

Bước 2: Lựa chọn án lệ

Trong giai đoạn này, Thẩm phán, Hội thẩm cần phải: Lựa chọn đúng án lệ được trù tính cho trường hợp cần áp dụng, cụ thể là số bản án, quyết định của Tòa án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ; Đối chiếu so sánh với tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết để xác định vụ việc có tương tự không ? tình tiết, sự kiện pháp lý có giống nhau không ? Xác định án lệ được lựa chọn là đang có hiệu lực để có thể áp dụng đối với vụ việc đang được giải quyết.

Bước 3: Quyết định áp dụng, không áp dụng án lệ

Kết quả của bước 2 cho phép: Thẩm phán, Hội thẩm khẳng định rằng vụ việc trong án lệ và vụ việc đang giải quyết là tương tự, có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau thì sẽ áp dụng án lệ để được giải quyết như nhau. Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Tòa án có chứa đựng án lệ,tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lện và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn của Tòa án trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án.

Để việc áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử đạt hiệu quả, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, giải pháp lập pháp: Sửa đổi, bổ sung Điều 104 Hiến pháp nuước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể là bổ sung thêm cụm từ”…và ban hành án lệ” vào đoạn cuối của khoản 3 Điều 104 Hiến pháp. Như vậy nội dung đầy đủ của khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 sẽ là: “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử và ban hành án lệ”. Sửa đổi, bổ sung theo hướng nêu trên trong Luật tổ chức TAND.

Thứ hai, TAND sớm phát hành” Tuyển tập án lệ” để Tòa án các cáp nghiên cứu, áp dụng trong thực tiễn xét xử; ngành tòa ấn cần có quy định Thẩm phán có nghĩa vụ áp dụng án lệ khi xét xử vụ việc trong trường hợp pháp luật quy định không rõ ràng về vấn đề pháp lý đặt ra trong vụ việc đó và có cơ chế giám sát việc viện dẫn, sử dụng án lệ của Tòa án các cấp

Thứ ba, tổ chức hội thảo, bồi dưỡng nghiệp vụ về sử dụng ấn lệ cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; nhanh chóng triển khai đưa án lệ vào hoạt động đào tạo luật tại các trường, cơ sở đào tạo cử nhân luật và tại các cơ sở đào tạo nguồn Thẩm phán như Học viện Tư pháp và Học viện Tòa án.

Tài liệu tham khảo

1.     Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTPTANDTC ngày 28/10/2015

2.      Nghị quyết số 49/NQ-TƯ ngày 02/06.2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Các tin mới hơn
Yêu cầu của người giảng viên Trường Chính trị tỉnh Hải Dương (22/08/2019)
Một số kinh nghiệm thu hút học viên nghe bài đối với giảng viên trẻ hiện nay (21/08/2019)
Một số điểm mới về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Quy định số 09-QĐi/TW (19/08/2019)
Một số kinh nghiệm từ công tác tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp phòng tại trường Chính trị tỉnh Hải Dương (23/07/2019)
Các tin cũ hơn
Thừa kế - Một số vấn đề còn hạn chế (24/06/2019)
Huyện Gia Lộc tích cực thực hiện cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” (12/06/2019)
Yêu cầu của người giảng viên Trường Chính trị tỉnh Hải Dương (12/06/2019)
Xây dựng môi trường văn hóa ở trường Chính trị tỉnh Hải Dương (07/06/2019)
Thẻ đảng viên và một số lưu ý khi sử dụng thẻ đảng viên (03/06/2019)
Thông báo